Thứ 7 04/07/2020 
 Thủ tướng chủ trì họp Ban chỉ đạo điều hành giá

Tin tức trong nước >> Kinh tế

Thủ tướng chủ trì họp Ban chỉ đạo điều hành giá
Cập nhật lúc 10:54 01/07/2020

Sáng nay (1/7), phát biểu khai mạc cuộc họp, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đề nghị thảo luận kỹ về giải pháp kiểm soát lạm phát dưới ngưỡng 4%, “chứ tăng trưởng mà để lạm phát cao là thất bại”.

Ảnh: VGP/Quang Hiếu

Thủ tướng nêu rõ, chúng ta ở tư thế phòng thủ bệnh tật trong quá trình phát triển, tức là không chỉ phòng thủ bình thường mà phòng thủ cao, với mục tiêu không được để COVID-19 quay lại lần thứ 2, xóa bỏ thành quả bảo vệ sức khỏe của người dân.

Thủ tướng nêu ra 4 lĩnh vực mà Chính phủ quan tâm, phải giải quyết tốt và đề nghị Ban chỉ đạo điều hành giá góp ý. Thứ nhất là có mức tăng trưởng cần thiết. Đây là bài toán nặng nề. Thứ hai là bảo đảm an sinh xã hội, chống thất nghiệp, “làm sao đừng để nhân dân đói kém, thiếu thốn, khó khăn trong đại dịch”. Mục tiêu thứ ba cần thảo luận là kiểm soát lạm phát trong ngưỡng dưới 4% như Quốc hội đề ra. “Có làm được điều đó không là bài toán rất lớn”, Thủ tướng nói, công tác điều hành giá phải phục vụ mục tiêu này.

Thứ tư là bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế. Trong đó, Thủ tướng lưu ý bảo đảm an ninh lương thực, nhất là trong bối cảnh thiên tai, lũ lụt.

Trong các mục tiêu này, Thủ tướng đề nghị thảo luận kỹ về mục tiêu thứ 3, về “áp lực lên mặt bằng giá là gì”, về các giải pháp điều hành giá trong quý III, IV/2020 để giữ ổn định giá cả, “chứ tăng trưởng mà để lạm phát cao là thất bại”.

Theo báo cáo của Bộ Tài chính, CPI tháng 6 tăng 0,66%. Từ đó, CPI bình quân giảm dần từ mức cao là 6,54% về mức 4,19% trong 6 tháng đầu năm, dần tiệm cận với chỉ tiêu kiểm soát lạm phát ở mức 4% mà Quốc hội đề ra.

Báo cáo cho biết, trên cơ sở kết quả thực hiện công tác quản lý, điều hành giá 6 tháng đầu năm, để thực hiện được mục tiêu kiểm soát CPI bình quân cả năm 2020 trong khoảng 4% thì dư địa cho các tháng còn lại sẽ ở mức +0,56%/tháng. Như vậy, đến thời điểm hiện nay có thể thấy dư địa cho công tác kiểm soát lạm phát trong các tháng còn lại vẫn ở ngưỡng tương đối thuận lợi và có thể thấy với quyết tâm của Chính phủ và Thủ tướng thì kiểm soát lạm phát năm 2020 sẽ dưới 4%. Tuy nhiên, trong bối cảnh triển vọng kinh tế thế giới được dự báo vẫn ảm đạm do tình hình dịch bệnh, việc điều hành giá vẫn cần được thực hiện thận trọng.

Về giá cả một số mặt hàng, nguồn cung thịt lợn đang được bổ sung từ hoạt động chăn nuôi, tái đàn, nhập khẩu dần được đáp ứng trong thời điểm cuối quý III, đầu quý IV/2020. Trong các tháng tiếp theo, giá thịt lợn nhiều khả năng sẽ không có biến động lớn so với mức giá hiện nay và có thể xu hướng giảm dần trong quý IV. Giá các mặt hàng tiêu dùng, lương thực, thực phẩm trên thị trường cơ bản ổn định do nguồn cung trong nước dồi dào, đáp ứng được nhu cầu của người dân. Giá điện cơ bản được giữ ổn định trong năm 2020 theo đúng chỉ đạo của Thủ tướng, Trưởng Ban Chỉ đạo điều hành giá.

Theo Đức Tuân
chinhphu.vn




VIDEO CLIP

Previous
  • Giảm nguy cơ mắc chủng virus corona mới (nCoV 2019)

  • VOV BACSI24

  • Đánh giặc Corona

Next

GIỚI THIỆU PHIM

Previous
  • Lạc lối

  • Người đàn bà ẩn danh

  • Người tình của Khang Hy

  • Vén màn quá khứ

  • Ánh đèn nơi thành thị

Next


Ngoại tệ
Tỷ giá ngoại tệ ngày : 7/4/2020 8:55:58 PM
MuaCKBán
AUD 15,650.96 15,809.0516,304.60
CAD 16,670.71 16,839.1017,366.93
CHF 23,922.60 24,164.2424,921.68
CNY 3,216.93 3,249.423,351.78
DKK - 3,435.793,564.82
EUR 25,413.31 25,670.0126,709.40
GBP 28,190.27 28,475.0229,367.59
HKD 2,918.44 2,947.923,040.33
INR - 309.66321.81
JPY 208.65 210.76218.63
KRW 16.73 18.5920.37
KWD - 75,215.1978,166.44
MYR - 5,360.825,473.84
NOK - 2,387.362,486.94
RUB - 328.35365.88
SAR - 6,171.166,413.30
SEK - 2,439.802,541.58
SGD 16,216.53 16,380.3316,893.79
THB 659.44 732.71760.23
USD 23,080.00 23,110.0023,290.00
Giá vàng
Tỷ giá Vàng SJC: 09:02:06 AM 04/07/2020
LoạiMuaBán
Vàng SJC 1L - 10L 49.500 49.880
Vàng nhẫn SJC 99,99 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 49.150 49.700
Vàng nhẫn SJC 99,99 0,5 chỉ 49.150 49.800
Vàng nữ trang 99,99% 48.800 49.550
Vàng nữ trang 99% 47.859 49.059
Vàng nữ trang 75% 35.516 37.316
Vàng nữ trang 58,3% 27.241 29.041
Vàng nữ trang 41,7% 19.014 20.814
qc