Thứ Tư 05/08/2020 
 Thúc đẩy hợp tác thương mại, đầu tư giữa Việt Nam và Australia

Tin tức trong nước >> Kinh tế

Thúc đẩy hợp tác thương mại, đầu tư giữa Việt Nam và Australia
Cập nhật lúc 16:43 22/11/2019

Tiếp Đại sứ Australia, bà Robyn Mudie, sáng 22/11, Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng khẳng định hai nước cần tiếp tục đẩy mạnh hợp tác trong lĩnh vực kinh tế, thương mại, đầu tư để cụ thể hóa, làm sâu sắc hơn mối quan hệ Đối tác chiến lược.

Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng và Đại sứ Australia, bà Robyn Mudie - Ảnh: VGP/Đoàn Bắc

Phó Thủ tướng bày tỏ tin tưởng về sự phát triển quan hệ Đối tác chiến lược đang diễn ra tốt đẹp giữa hai nước trong thời gian qua; khẳng định Việt Nam luôn luôn coi trọng đối tác Australia và coi đây là ưu tiên trong chính sách đối ngoại của Việt Nam.

Kim ngạch thương mại hai chiều năm 2018 đạt 7,7 tỉ USD (tăng 19,3% so với 2017, trong đó Việt Nam xuất gần 4 tỉ USD và nhập hơn 3,7 tỉ USD). Hiện Australia có 425 dự án đầu tư với tổng vốn hơn 1,84 tỷ USD, đứng thứ 19/128 nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam. Ta có 47 dự án đầu tư trực tiếp vào Australia tổng giá trị 255,80 triệu USD.

Phó Thủ tướng đánh giá cao việc Australia hỗ trợ ODA không hoàn lại cho Việt Nam với nhiều dự án xây dựng cơ sở hạ tầng thiết yếu, nhiều công trình đã trở thành biểu tượng hợp tác giữa hai nước như cầu Cao Lãnh, cầu Mỹ Thuận.

Cho rằng các lĩnh vực hợp tác, đầu tư còn dư địa lớn, Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng gợi ý các doanh nghiệp Australia tìm hiểu đầu tư vào các lĩnh vực mà Việt Nam đang có nhu cầu và điều kiện thuận lợi để phát triển như như nông nghiệp, công nghiệp hỗ trợ, du lịch, năng lượng tái tạo...

Ảnh: VGP/Đoàn Bắc

Trong thời gian tới, Phó Thủ tướng đề nghị bà Đại sứ quan tâm thúc đẩy việc trao đổi tiếp xúc thường niên giữa lãnh đạo cấp cao, địa phương và doanh nghiệp hai nước; đặc biệt là cơ chế hợp tác song phương giữa hai nước về kinh tế, thương mại. “Phấn đấu hai nước trở thành đối tác thương mại trong tốp 10, trước mắt sớm hiện thực mục tiêu kim ngạch thương mại hai chiều đạt 10 tỷ USD vào năm 2020”, Phó Thủ tướng nhấn mạnh.

Phó Thủ tướng cũng cảm ơn Australia luôn ủng hộ Việt Nam trên các diễn đàn quốc tế và mong Australia phối hợp chặt chẽ trong quá trình Việt Nam đảm nhiệm vai trò Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc nhiệm kỳ 2020-2021 và Năm Chủ tịch ASEAN 2020.

Đại sứ Robyn Mudie bày tỏ vinh dự được đảm đương vai trò Đại sứ trong giai đoạn quan hệ hai nước đang phát triển rất tốt đẹp. Đại sứ khẳng định, nhiều nhà đầu tư Australia ấn tượng với các chính sách tạo môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi mà Chính phủ Việt Nam đang triển khai thực hiện. Trong điều kiện đó, việc hai nước có rất nhiều tiềm năng hợp tác sẽ thúc đẩy doanh nghiệp hai bên mở rộng hợp tác, đầu tư kinh doanh tại thị trường của nhau. “Tôi sẽ nỗ lực hết sức mình để thúc đẩy hợp tác giữa hai nước trên nhiều lĩnh vực, đặc biệt là kinh tế, thương mại, đầu tư”, Đại sứ Robyn Mudie nói.

Theo Đoàn Bắc
chinhphu.vn

 





VIDEO CLIP

Previous
  • Giảm nguy cơ mắc chủng virus corona mới (nCoV 2019)

  • VOV BACSI24

  • Đánh giặc Corona

Next

GIỚI THIỆU PHIM

Previous
  • Lạc lối

  • Người đàm phán

  • Người đàn bà ẩn danh

  • Người tình của Khang Hy

Next


Ngoại tệ
Tỷ giá ngoại tệ ngày : 8/5/2020 2:19:23 AM
MuaCKBán
AUD 16,071.27 16,233.6116,742.47
CAD 16,870.19 17,040.6017,574.76
CHF 24,615.30 24,863.9425,643.34
CNY 3,253.80 3,286.673,390.20
DKK - 3,592.963,727.89
EUR 26,552.73 26,820.9427,906.96
GBP 29,528.39 29,826.6630,761.62
HKD 2,915.93 2,945.383,037.71
INR - 307.58319.65
JPY 211.17 213.30221.26
KRW 16.82 18.6920.48
KWD - 75,543.1378,507.31
MYR - 5,434.875,549.45
NOK - 2,486.012,589.72
RUB - 317.03353.27
SAR - 6,165.356,407.26
SEK - 2,595.662,703.94
SGD 16,421.53 16,587.4017,107.36
THB 656.55 729.50756.89
USD 23,060.00 23,090.0023,270.00
Giá vàng
Tỷ giá Vàng SJC: 04:28:55 PM 04/08/2020
LoạiMuaBán
Vàng SJC 1L - 10L 56.830 57.980
Vàng nhẫn SJC 99,99 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 54.100 55.050
Vàng nhẫn SJC 99,99 0,5 chỉ 54.100 55.150
Vàng nữ trang 99,99% 53.650 54.750
Vàng nữ trang 99% 52.708 54.208
Vàng nữ trang 75% 39.217 41.217
Vàng nữ trang 58,3% 30.072 32.072
Vàng nữ trang 41,7% 20.983 22.983
qc