Thứ 7 20/07/2019 
Màu của ấm no

Ký sự - Phóng sự >> Phóng sự

Màu của ấm no
Cập nhật lúc 18:14 13/06/2019

Đồng nghiệp của tôi trong một lần trò chuyện với bà con đồng bào dân tộc thiểu số về cây lúa nước nghe bà con chia sẻ rằng người mình ngâm trong nước lâu cũng chết, vậy cây lúa trồng ở nước sao sống nổi. Đó đã là câu chuyện của nhiều năm về trước. Bây giờ đây, lên vùng biên giới xã Thượng Hoá, huyện Minh Hoá, giữa điệp trùng đồi núi bao quanh là xôn xao tiếng cười nói của bà con đồng bào Rục và bộ đội Biên phòng bên cánh đồng lúa Rục Làn. Vậy là cũng đã ngót nghét 10 năm, bà con dân tộc Rục ở đây làm lúa nước.

Cách đây hơn 60 năm, 34 người Rục ít ỏi còn lại sinh sống trong các hang đá ở vùng cao Thượng Hoá, như “ngọn đèn trước gió”, bấp bênh “bên bờ vực thẳm” đã được bộ đội Biên phòng Quảng Bình kiên trì vận động về ở bản làng, hoà nhập cùng cộng đồng. Mặc dù đã được hỗ trợ, giúp đỡ rất nhiều từ các chính sách của Đảng, Nhà nước, thế nhưng, tập quán sơ khai thuở ban đầu của người Rục vẫn dai dẳng đeo bám, cuộc sống của bà con vì thế còn rất bấp bênh.  

Chồng mất sớm, một mình nuôi 8 đứa con, trước đây, chị Hồ Thị Páy ở bản Mò O Ồ Ồ, xã Thượng Hoá cứ sáng sớm mờ sương phải dậy đâm bồi, để sẵn trên bếp củi cho cả nhà, ăn từ sáng đến tối. Làm rẫy, đi rừng vẫn không đủ no. Chị Hồ Thị Páy nhớ lại: “Bữa kia là làm sắn làm ngô, đi tìm tiền mua ăn mua uống khổ cực lắm”.

Thế rồi khi bộ đội Biên phòng Đồn Cà Xèng vận động làm lúa nước, chị theo bộ đội sớm hôm ra đồng làm lúa, học từng kỹ thuật từ làm đất đến gieo sạ, chăm bón. Chị nói: “Có bộ đội bày vẹ từng li từng tí nên làm lúa nước được, không khó”. Rồi khoe: “Nhà mình có 4 sào ruộng, mỗi vụ thu hoạch được khoảng 12 tạ thóc, không còn lo đói khi giáp hạt, còn có thể nuôi 4 đứa con đi học nữa”.

a
Màu vàng ấm áp giữa điệp trùng biên giới.

Bản Mò O Ồ Ồ có 80 hộ với gần 300 nhân khẩu, đều là bà con đồng bào Rục, là tộc người còn lại rất ít với nhận thức hạn chế, lại sinh sống ở địa bàn biên giới nên đời sống gặp nhiều khó khăn, hộ nghèo chiếm trên 85%. Trước đây, bà con chủ yếu trồng ngô, trồng sắn và số ít làm lúa rẫy, nhưng năng suất thấp, không đủ đáp ứng nhu cầu đời sống. Phương thức sản xuất lạc hậu, vì thế, dễ hiểu khi bữa ăn của bà con luôn là điệp khúc sáng ngô chiều bồi. Sau khi được bộ đội Biên phòng Đồn Cà Xèng đóng trên địa bàn vận động, 63 hộ dân của bản đã tham gia trồng lúa nước. Qua đó, từng bước thay đổi tập quán sản xuất cũng như đảm bảo nguồn lương thực.

Anh Cao Xuân Long, Trưởng bản Mò  O Ồ Ồ, xã Thượng Hoá, huyện Minh Hoá cho biết: “Từ khi làm được lúa nước, đời sống bà con trong bản đỡ vất vả hơn rất nhiều. Nhiều hộ còn dành dụm sắm nồi cơm điện, quạt máy, tivi...”

Lên với Thượng Hoá những ngày này, có lẽ sắc màu đáng yêu nhất chính là màu xanh của cánh đồng lúa Rục Làn. Vui lắm chứ, khi bà con mình đã bớt đói, bớt khổ, nhưng hạnh phúc nhất có lẽ chính là cán bộ, chiến sỹ Đồn Biên phòng Cà Xèng, Bộ đội Biên phòng Quảng Bình, những người đã trăn trở cùng cây lúa nước, cùng hành trình vận động bà con trồng cây lúa nước suốt nhiều năm qua.

Xác định giúp dân phát triển kinh tế là một trong những nhiệm vụ quan trọng của công tác Biên phòng, và cũng xuất phát từ thực tế đời sống khó khăn của đồng bào Rục, không thể để bà con cực khổ mãi, Bộ đội Biên phòng Quảng Bình đã xây dựng dự án lúa nước Rục Làn ở bản Mò O Ồ Ồ, giao cho Đồn Biên phòng Cà Xèng trực tiếp triển khai thực hiện từ năm 2009.

Giữa thăm thẳm núi ngàn, bộ đội chọn khoảnh đất bằng phẳng nhất, gần con suối chảy qua để làm lúa nước. Gọi là bằng phẳng, nhưng là so với vùng núi, thực tế vẫn là cồn bãi nhấp nhô, cỏ dại mọc um tùm. Phải mất rất nhiều sức người, sức của của chiến sỹ Biên phòng ngày ấy mới có thể biến vùng cồn bãi ấy thành cánh đồng lúa nước như bây giờ. Diện tích ban đầu thực hiện là 10ha, hiện tại, đã chuyển đổi 4ha sang trồng ngô do thiếu nước sản xuất. Mỗi năm sản xuất 2 vụ với năng suất đạt từ 3,5 đến 4 tấn/ha, đặc biệt từ năm 2017 đến nay, năng suất đều đạt khá, cơ bản giúp bà con tự chủ được lúa gạo.

Để có được kết quả này là cả một hành trình dài và gian nan của những người lính mang quân hàm xanh. Trước khi triển khai mô hình, cán bộ, chiến sỹ phải tự tìm học các kiến thức, kỹ năng của nhà nông. Có kiến thức, kỹ năng làm lúa nước rồi, việc dạy lại cho bà con mới là điều khó nhất.

Đại úy Bùi Văn Hải, Đội trưởng Đội vận động quần chúng, Đồn Biên phòng Cà Xèng kể: “Do nhận thức của bà con còn hạn chế, nên việc vận động bà con rất gian nan. Gọi bà con lên ruộng để cùng làm, có người bảo ngày xưa cha ông không đi làm vẫn có ăn, giờ mình cũng không làm mô. Rồi khi lúa chín, gọi bà con đi thu hoạch, một số bà con nói lúa của mình mình thích gặt lúc mô thì gặt. Bộ đội đừng lo”.

Để thay đổi tập quán sản xuất đã ăn sâu vào máu của đồng bào, cán bộ, chiến sỹ phải nhỏ to thủ thỉ đi từng nhà vận động, và quan trọng hơn cả, với bà con là phải mắt thấy tai nghe, phải cầm tay chỉ việc. Bộ đội Cà Xèng, từ chỉ huy đến chiến sỹ vác cuốc ra đồng, trở thành người nông dân thực thụ.

Đồn trưởng Đồn Biên phòng Cà Xèng, Trung tá Hoàng Ngọc Thiên tâm sự: “Anh em trong Đồn đều coi việc trồng lúa là nhiệm vụ quan trọng, chăm sóc lúa như con của mình. Từ khi làm đất, gieo cấy đến khi thu hoạch, ngày nào cũng vậy, Đồn đều cử cán bộ ra đồng theo dõi, để nếu có dấu hiệu bất thường hay sâu bệnh, phải kịp thời gọi bà con cùng lên ruộng triển khai phòng trừ”. Anh còn nói vui thêm: “Thế nên nếu ở lại với Cà Xèng, sáng sớm ra đồng nếu thấy bộ đội đi thơ thẩn giữa đồng, các bạn cũng đừng ngạc nhiên nhé! Đang kiểm tra lúa đó”.

Mùa gặt, để kịp chạy đua với thời tiết và thời vụ, đa phần quân số của Đồn được cắt cử ra đồng cùng đồng bào thu hoạch. Không chỉ là những cán bộ, chiến sỹ trẻ, mà Chính trị viên Lê Văn Sơn đã gần đến tuổi nghỉ hưu, cả 2 cán bộ đi thực tế từ Học viện Biên phòng là Chính trị viên phó Trần Nhật Nam và Đồn phó Phạm Công Minh trước đây chỉ quen với sách vở, giáo án cũng hăng hái lội ruộng phụ giúp. Bộ đội, bà con mỗi người một tay, người gặt, người gánh, mồ hôi dưới cái nắng tháng 5 chưa kịp lau đã ráo, vậy mà tiếng cười nói thì giòn vang. Lúa tập kết về một chỗ, bộ đội vận hành máy tuốt ngay góc ruộng, thóc cứ thế đổ đầy từng thúng. Trên con đường làng, đàn bò nhẩn nha gặm cỏ, thanh niên trai bản chạy xe máy rà rà, chở từng thúng lúa, bao lúa về nhà phơi.

a
Đã nhiều vụ mùa, Thượng tá, Chính trị viên Đồn Biên phòng Cà Xèng Lê Văn Sơn
cùng bà con thu hoạch lúa.

Nói đến máy tuốt, máy cày, chỉ huy Đồn chia sẻ: “Trước đây chưa có máy móc, bộ đội và dân bản vất vả lắm. Và chúng tôi cũng thấy rằng, nếu tất cả công đoạn đều làm thủ công thì bà con vẫn mãi tụt hậu, nhất định phải đưa cơ giới vào sản xuất như ở đồng bằng”. Vậy là bằng tất cả tâm huyết và trách nhiệm với đồng bào, Đại úy Bùi Văn Hải, vừa là Bí thư Chi đoàn, vừa là người kết nối với các tổ chức thiện nguyện đã viết thư kêu gọi sự giúp đỡ từ khắp mọi miền của Tổ quốc. Và thật may mắn khi đã có nhiều mạnh thường quân chung tay giúp đỡ cho bà con 1 máy tuốt lúa, 2 máy cày với trị giá khoảng 80 triệu đồng. Nhờ có máy móc, thời gian thực hiện các công đoạn giảm xuống chỉ còn 1/3, năng suất vì thế cải thiện rõ rệt.

Tháng 5 trời như đổ lửa, để chuẩn bị cho vụ mới, cán bộ, chiến sỹ bộ đội Biên phòng Đồn Cà Xèng lại quần quật trên đồng ruộng, cởi trần lái máy cày, cùng bà con hăng hái làm đất, vào vụ Hè thu.

Với những người lính Biên phòng, niềm hạnh phúc của các anh thật giản dị, đó chính là chứng kiến sự đổi thay của bà con từ suy nghĩ đến hành động, đó là bà con đã biết dậy sớm đi làm đồng, không còn trông chờ, ỷ lại mà đã biết giá trị và niềm vui của lao động. Không như ở đồng bằng, nhiều bà con ở đây trước kia có thói quen dậy muộn, ăn uống, đôi khi cà kê chén rượu, phải đến 9 giờ mới ra đồng. Bây giờ đã thay đổi nhiều, ai ai cũng thức khuya dậy sớm, 5 - 6 giờ đã cùng bộ đội ra đồng thăm lúa.

Niềm hạnh phúc ấy thật giản dị nhưng không kém phần lớn lao. Không ai khác, chính các anh, những người lính mang quân hàm xanh đã góp công lớn trong việc thay đổi phong tục, tập quán lạc hậu của bà con, giúp bà con tiếp cận với những phương thức sản xuất hiện đại, tiến tới tự cung tự cấp được lương thực.

Có lẽ, cánh đồng lúa Rục Làn là một trong những hình ảnh minh chứng rõ nét nhất cho tình quân dân thắm thiết và đẹp đẽ ở miền biên viễn xa xôi này.

Mùa gặt, nắng vàng ươm khắp bản làng bà con đồng bào Rục. Một màu vàng khác, thật ấm áp cũng trải đều từ cánh đồng đến khắp các sân nhà của đồng bào - màu của lúa chín. Và những ngày này, những khoảnh mạ vừa gieo đã bén đất, lên xanh. Những sắc màu hạnh phúc đó, xin được gọi là màu của ấm no.


Phương Thảo



VIDEO CLIP

Previous
  • Lễ hội hang động Quảng Bình 2019

  • Hướng dẫn sử dụng truyền hình số mặt đất DVB-T2

  • Kỷ niệm 30 năm tái lập tỉnh và 70 năm Quảng Bình quật khởi

  • Các biện pháp phòng chống dịch tả lợn châu phi

Next

GIỚI THIỆU PHIM

Previous
  • Tình yêu và thù hận

  • Bên nhau trọn đời

  • Tình thù hai mặt

Next


Ngoại tệ
MuaCKBán
AUD 16180.82 16278.4916555.28
CAD 17529.58 17688.7817989.55
CHF 23285.36 23449.5123848.23
DKK 0 3452.963561.18
EUR 25954.67 26032.7726814.57
GBP 28781.83 28984.7229242.68
HKD 2936.82 2957.523001.8
INR 0 337.12350.34
JPY 212.87 215.02222.75
KRW 18.09 19.0420.65
KWD 0 76319.8879314.34
MYR 0 5623.515696.3
NOK 0 2679.872763.87
RUB 0 369.25411.45
SAR 0 6184.476427.12
SEK 0 2464.022526.05
SGD 16910.3 17029.5117215.47
THB 740.47 740.47771.36
USD 23190 2319023310
Giá vàng
LoạiMuaBán
qc